Thứ Năm, 5 tháng 9, 2013

Mỹ quyết tấn công, Syria không dễ đánh

TPO-Ông Obama tuyên bố Mỹ cần phải tiến hành hành động quân sự có giới hạn chống lại chế độ Syria và loại trừ khả năng sử dụng vũ khí hóa học của chính quyền nước này.
Nhà Trắng tin tưởng có thể nhận được sự ủng hộ của quốc hội về vấn đề tấn công Syria không cần sự đồng ý của Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc, đi ngược lại với yêu cầu của chính quyền Nga đòi hỏi phải có sự đồng thuận và nghị quyết của Liên Hợp Quốc.
"Mươi ngày trước đây thế giới đã chứng kiến với nỗi kinh hoàng những nạn nhân đàn ông, phụ nữ, trẻ em bị giết hại bởi đòn tấn công vũ khí hóa học kinh tởm nhất của thế kỷ 21…Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình ở Syria, tôi (Barack Obama) quyết định nước Mỹ cần phải tiến hành một hành động quân sự cần thiết để chống lại chính quyền Syria. Hành động quân sự này không phải là hành động can thiệp vào nội bộ Syria vô thời hạn, cũng không phải là các chiến dịch tấn công trên đất liền. Hành động quân sự sẽ được giới hạn về thời gian và quy mô sử dụng lực lượng” - Ông Obama nói trong tuyên bố đặc biệt cuối tuần qua về vấn đề Syria.
Theo ông Obama, chế độ của tổng thống Bashar al-Assad phải chịu trách nhiệm về những gì xảy ra ở Syria và phải bị tước đoạt mọi khả năng sử dụng vũ khí hóa học. Chính quyền Mỹ đã công bố báo cáo tóm tắt những kết quả tình báo, trong đó cáo buộc chế độ Assad phải chịu trách nhiệm về cuộc tấn công vũ khí hóa học ngoại vi Damascus ngày 21.8. Cũng theo những thông tin từ phía Mỹ, cuộc tấn công này đã giết chết 1.429 người Syria, trong đó có 426 trẻ em.
Ráo riết chuẩn bị trừng phạt Syria
Trong tình hình ngày càng nóng lên bởi những sự kiện diễn ra liên tiếp, quân đội Mỹ đã sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh. "Quân đội của chúng ta đã có mặt trong khu vực. Chủ tịch hội đồng tham mưu liên quân đã thông báo cho tôi biết, lực lượng của chúng ta đã sẵn sàng giáng đòn tấn công bất cứ lúc nào. Chủ tịch hội đồng tham mưu liên quân khẳng định, lực lượng tại khu vực có khả năng tiến hành chiến dịch không phụ thuộc vào thời gian – có thể triển khai tấn công hiệu quả ngay ngày mai, sang tuần sau hoặc sang tháng sau. Và tôi đã sẵn sàng ra lệnh "- Tổng thống Mỹ kết luận.
  
Hiện nay ở vùng nước phía đông Địa Trung hải đang có 5 khu trục hạm tên lửa của Mỹ: USS Stout, Mahan, Ramage, Barry, Gravely. Mỗi khu trục hạm có thể mang theo 90 tên lửa, nhưng theo các chuyên gia, một nửa số tên lửa đó dùng để phòng thủ. Như vậy, 5 tàu khu trục mang tên lửa có khả năng tấn công các mục tiêu ở Syria hơn 200 tên lửa Tomahawk. Ngoài ra, trong khu vực đã triển hai hai cụm ACTF (không quân hải quân tấn công chủ lực) với các kỳ hạm là tàu sân bay nguyên tử Harry S. Truman và Nimitz. Để thực hiện hành động quân sự can thiệp vào Syria, tổng thống Barack Obama muốn nhận được sự ủng hộ và phê chuẩn của Quốc hội cho chiến dịch.
  
"Tôi sẽ cố gắng đạt được sự phê chuẩn của các đại biểu người dân Mỹ trong quốc hội cho phép sử dụng hành động quân sự. Bản thân tôi có toàn quyền tiến hành chiến dịch không có sự đồng thuật của Hạ nghị viện, nhưng đất nước sẽ mạnh hơn, nếu chúng ta cùng thống nhất hành động, những hoạt động của chúng ta sẽ rất hiệu quả. Chúng ta cần nghị quyết của quốc hội" — người đứng đầu nước Mỹ tuyên bố.
Cũng theo lời tổng thống Mỹ, các nhà lãnh đạo của Nghị viện cũng nhất trí cần phải tham vấn quốc hội và có được sự đồng thuận. Ông Obama nhấn mạnh Washington sẵn sàng tiến hành các hoạt động mà không đợi sự đồng thuận từ phía Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc (UNSC). "Tôi tin vào kết luận của chính phủ Mỹ và không cần các kết luận của các thanh sát viên Liên Hiệp quốc. Chúng ta cần phải tiến về phía trước và hành động mà không có sự đồng thuận của UNSC. Cơ quan này đã hoàn toàn bị tê liệt và không muốn lôi Assad ra trước công lý” – Ông Obama nói. Đồng thời ông cũng thừa nhận cuộc xung đột đẫm máu hiện nay ở Syria không thể được giải quyết bằng sự can thiệp quân đội Mỹ.

Hạ Nghị viện Mỹ và Thượng Nghị viện Mỹ sẽ thảo luận về một chiến dịch quân sự chống Syria không sớm hơn ngày 9.9. Nhà Trắng đã gửi đến quốc hội một văn bản dự thảo nghị quyết mà các nhà lập pháp sẽ bàn thảo và phê chuẩn. Như vậy, ông Obama bằng cách này đã chính thức yêu cầu Hạ viện Mỹ thông qua nghị quyết tiến hành các hoạt động quân sự chống Syria. Sự cần thiết của một chiến dịch quân sự được coi là chính đáng trong dự thảo văn kiện này, khi có văn bản cáo buộc hành động của chính quyền Syria đã vi phạm các chuẩn mực pháp lý quốc tế, đặc biệt là Công ước về cấm sử dụng vũ khí hóa học theo nghị quyết 1540 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (UNSC).
Lời cảnh báo từ Nga
Moscow trước những tuyên bố chiến tranh mạnh mẽ của NATO đã có những phản ứng quyết liệt. Chính phủ Nga kêu gọi chờ đợi kết quả cuộc thanh tra vũ khí hóa học của các thanh sát viên Liên Hợp quốc. Nga cho rằng một chiến dịch quân sự không có sự phê chuẩn của UNSC (mà trong cơ quan này Moscow có quyền phủ quyết) là một hành động phá hoại Hiến chương Liên Hợp Quốc. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga Alexander Lukashevich tuyên bố: “Bất cứ một hành động quân sự đơn phương nào bỏ qua UNSC, dù nó được hạn chế ở mức độ nào đều là những vi phạm thô bạo luật pháp quốc tế, phá hoại và làm suy yếu những triển vọng giải quyết vấn đề xung đột ở Syria và dẫn đến một vòng xoáy mới của cuộc xung đột và thêm số nạn nhân. Không thể cho phép một sự phát triển tình hình nguy hiểm như vậy ”.
Tổng thống Vladimir Putin gọi các cáo buộc chính quyền Syria sử dụng vũ khí hóa học là những hành vi khiêu khích và vu cáo. "Tôi tin tưởng rằng, tất cả những điều đó không hơn những hành động khiêu khích và vu cáo của những kẻ đang mong muốn lôi kéo các nước khác vào cuộc xung đột, họ muốn đạt được sự ủng hộ từ phía các thế lực hùng mạnh trên trường thế giới, trước hết là Mỹ…Chúng tôi kêu gọi các quốc gia cần phải suy nghĩ cẩn trọng trước khi ra quyết định, khi mà những quyết định này trái ngược với dư luận của cộng đồng quốc tế đồng thời phá hủy toàn bộ hệ thống an ninh thế giới" — Ông Putin tuyên bố sau bài phát biểu của ông Obama.
Cũng theo ông Putin, chính quyền Syria trước đây đã kêu gọi cộng đồng quốc tế và Liên Hợp quốc với đề nghị thanh tra khả năng những người trong lực lượng nổi dậy đã sử dụng vũ khí hóa học, nhưng vấn đề thanh tra đã không được thực hiện. "Phản ứng của các nước chỉ xuất hiện sau ngày 21… một tư duy bình thường cũng có thể nhận thấy quân đội của chính phủ đang có ưu thế trên chiến trường. Trong tình hình đó, có thể đó là con bài quan trọng được đưa ra bởi lực lượng đối lập, đang nỗ lực kêu gọi sự can thiệp từ phía các thế lực bên ngoài. Vấn đề cáo buộc sử dụng vũ khí hóa học của quân đội chính phủ thực sự không có căn cứ hợp lý” – Tổng thống Nga nhận định. 
Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro
Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro.

Chính quyền Syria đã nhiều lần phủ nhận những cáo buộc của Mỹ, bộ ngoại giao Syria gọi các cáo buộc này là những nỗ lực nhằm che đậy một một âm mưu xâm lược. Tổng thống Venezuela ông Nicolas Maduro cũng phản đối chiến dịch tấn công quân sự vào Syria, ông nói: “Thực tế, tổng thống Barack Obama đang muốn thay thế Liên Hợp quốc, ông ta đã tự mình xét xử, kết tội và đưa ra bản án đối với chính phủ Syria, quyết định trừng phạt bằng biện pháp tấn công quân sự lên người dân Syria. Hiện nay ông đang đặt quốc hội Mỹ vào vị trí Tòa án quốc tế tối cao thay thế cho Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc”.
Những thế lực ủng hộ tấn công Syria
Quan điểm của tổng thống Mỹ trong vấn đề Syria có được sự ủng hộ mạnh mẽ của Tổng thống Pháp Francois Hollande và Thủ tướng Anh David Cameron. Ông Cameron đã viết trong microblog của mình trên Twitter rằng ông hiểu rõ và hoàn toàn ủng hộ quyết định của ông Obama đối với Syria bằng tất cả khả năng của mình.
Đầu tuần trước, quốc hội Anh đã bác bỏ đề nghị của Thủ tướng Anh về khả năng tiến hành một chiến dịch quân sự. Biểu quyết mang tính hình thức, nhưng ông Cameron tuyên bố rằng sự miễn cưỡng của quốc hội trước đề nghị tiến hành các hoạt động quân sự đã rõ ràng và ông sẽ có những hành động phù hợp với tình hình.
Thượng nghị sĩ John McCain phát biểu ủng hộ hoạt động quân sự chống Syria
Thượng nghị sĩ John McCain phát biểu ủng hộ hoạt động quân sự chống Syria.  
Những người hăng hái ủng hộ việc can thiệp quân sự vào cuộc xung đột ở Syria đã liên tục chỉ trích sự không kiên quyết của ông Barack Obama, họ cho rằng người đoạt giải Nobel về hòa hình thế giới năm 2009 đã thực hiện không trọn vẹn khi tuyên bố về khả năng sẵn sàng tiến hành các hoạt động quân sự hạn chế chống lại Syria. “Chúng ta không thể ủng hộ tuyên bố các đòn tấn công hạn chế vào Syria. Các hành động quân sự có giới hạn không phải là một phần của một chiến lược quân sự hoàn hảo, có khả năng thay đổi cán cân lực lượng trên chiến trường, đạt được mục đích đề ra là loại bỏ ông Assad ra khỏi chính quyền và kết thúc xung đột” - Thượng nghị sĩ John McCain và Lindsey Graham thuộc đảng Cộng hòa tuyên bố.
Theo họ, một chiến dịch giới hạn là một sự đáp trả không đầy đủ cho hành động sử dụng vũ khí hóa học và có thể là một tín hiệu không rõ ràng đối với những đồng minh của Mỹ cũng như lực lượng đối lập và có thể tạo ra một hiểu nhầm đối với chính quyền Syria và Iran. Trước đó, ông John McCain và Lindsey Graham yêu cầu phá hủy toàn bộ hạ tầng quân sự và xã hội của nhà nước Syria như đường giao thông, sân bay, căn cứ quân sự, sở chỉ hủy, kho tàng, bến cảng...
Không dễ bắt nạt Syria
Bình luận viên RIA Novosti, ông Konstantin Bogdanov nói: "Syria khó có thể coi là một mục tiêu dễ dàng, mặc dù khả năng giáng trả một cuộc tấn công đường không quy mô lớn của NATO rất hạn chế. Tuy nhiên, Mỹ không sẵn sàng chịu những tổn thất ở mức độ chấp nhận được như năm 1991 hoặc 2003 ở Iraq. Ông Barack Obama sẽ phải làm gì? Tổng thống Mỹ có vẻ cần một chiến dịch quân sự mang ý nghĩa chính trị có tiếng vang lớn, có thể được coi như là hành động của phương Tây "đứng lên bảo vệ" người dân bị áp bức, thống trị ở Syria thì phải".
Theo thông báo của Damascus, quân đội Syria cũng đã chuẩn bị bảo vệ các mục tiêu quan trọng – hệ thống phòng không đã được đưa vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất.
Tiềm lực quân sự Syria không hề yếu (trong thời gian gần đây đứng hàng thứ 2 sau Algeria). Trong mọi trường hợp, Damascus đảm bảo sự ổn định và phát triển mạnh mẽ hơn chế độ của Gaddafi đã sụp đổ thậm chí vượt cả Iraq thời kỳ hoàng kim của Saddam những năm 1980. Lực lượng vũ trang Syria chưa được hiện đại hóa hoàn toàn, nhưng các loại vũ khí, trang bị, phương tiện chiến tranh nhập từ Nga cho phép quân đội Syria tự tin và đối với can thiệp nước ngoài hoàn toàn không phải là một đối thủ đơn giản. Khả năng chiến đấu hiệu quả và sự bền bỉ của quân đội Syria đã được minh chứng trên thực tế, họ đã từng bước chiếm ưu thế trước lực lượng quân nổi dậy được hỗ trợ bởi nước ngoài.
Tổ hợp pháo phòng không – tên lửa
Tổ hợp pháo phòng không – tên lửa "Pantshir-S1E" của Syria đang cơ động.

Hệ thống phòng không của Syria có những loại vũ khí có thể gây được khó khăn cho các lực lượng quân sự nước ngoài, đó là các tổ hợp tên lửa pháo tự động tầm gần bảo vệ mục tiêu chống các loại tên lửa hành trình như "Pantshir-S1E", các tổ hợp tên lửa tầm trung như "Buk-M1-2" (có thể có "Buk-M2E").
Tất cả các loại vũ khí này hoàn toàn có thể chống đỡ và giảm thiểu một phần sức mạnh tấn công của các lực lượng NATO. Tất nhiên yếu tố quan trọng nhất, đó là khả năng chiến đấu cũng như ý chí của binh sĩ Syria. Liệu họ có thể bảo vệ chính thể của họ hay không trong một cuộc đối đầu không cân sức với một thế lực quân sự hùng mạnh hơn nhiều lần? Kết quả cuộc chiến cũng là thực tế đánh giá chính thể của ông Bashar al-Assad.
Phân tích tình hình hiện nay và những vấn đề liên quan đến hành động quân sự trừng phạt Syria có thể thấy những đặc điểm như sau:
Những thông số cho một cuộc chiến có ý nghĩa chính trị to lớn, cần được tỏa sáng và thành công đến thời điểm này tương đối xấu. Nếu như không tính đến yếu tố bên ngoài thì vị thế của Mỹ hiện nay trên trường thế giới không vững chắc, xã hội Mỹ đã quá mệt mỏi với những chi phí ngân sách không cần thiết và các cuộc xung đột - chiến tranh kéo dài không hồi kết ở Iraq và Afganixtan.
Không những thế, một yếu tố nữa là sự chia rẽ, bối rối về quan điểm trong hàng ngũ các nước đồng minh (ngoại trừ sự kiên định của Quatar và sự tham gia nhiệt tình của Pháp), cũng như sự không tin tưởng trong suy nghĩ của xã hội Mỹ và giới truyền thông. Quan trọng hơn nữa là sự không tin tưởng trong hàng ngũ các quan chức cao cấp của Washington. Theo tính chất những bản tuyên bố của các quan chức Lầu Năm Góc cũng như những phân tích của những chuyên gia người Mỹ được công bố nửa năm trở lại đây cho thấy, chiến lược quân sự trong một cuộc chiến sắp xảy ra ở Syria chỉ được giới hạn trong một cuộc tấn công phi tiếp xúc, tương tự như ở Nam Tư.
Chiến dịch quân sự chống Syria theo tuyên bố sẽ không có cuộc tấn công trên mặt đất, nhưng sẽ là một gánh nặng ghê gớm cho lực lượng không quân chiến thuật (phương tiện mang của các loại bom điều khiển dẫn đường quán tính và định vị vệ tinh JDAM), đồng thời mang ra sử dụng lại các loại vũ khí đã có từ những năm 1990, các tên lửa hành trình hải đối đất “Tomahawk”. Điển hình là chiến dịch “Cáo sa mạc” tấn công Iraq từ ngày 16 – 19.12.1998. Một cuộc khủng hoảng kéo dài vào mùa thu năm 1998 xung quanh các vụ thanh sát cở sở phát triển và chế tạo vũ khí hủy diệt lớn, cuối cùng là kết thúc bằng một hoạt động quân sự trừng phạt phi tiếp xúc.
Hơn 600 quả tên lửa và bom chính xác đã được sử dụng, trong đó có 325 tên lửa hành trình Tomahawk TLAM-C và 90 – tên lửa có độ chính xác cao phóng từ máy bay AGM-86C CALCM. Mục đích chính thức của đòn tấn công là nhằm tiêu diệt khả năng sản xuất vũ khí hủy diệt lớn (vũ khí hóa học) của Saddam Hussein, nhưng thực tế là đòn tấn công răn đe "đắt và rẻ". Quá đắt đỏ do giá thành của vũ khí và phương tiện mang, nhưng lại rất rẻ do ít tổn thất về con người – binh sĩ.
Xét trên góc độ chiến dịch – chiến thuật. Nếu không thiết lập vùng cấm bay và tấn công mọi mục tiêu di động cũng như sự tham chiến của lực lượng bộ binh tăng thiết giáp thì đòn tấn công quy mô lớn bằng tên lửa hành trình từ trên không và trên biển hoàn toàn chỉ có giá trị khủng bố tinh thần, gây hoang mang dao động và tan rã ý chí của lực lượng quân đội đối phương (điển hình như chiến tranh Nam Tư, cuộc chiến Libya) đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ tính chiến đấu của lực lượng đối lập, chứ không đóng vai trò giải quyết chiến trường.
Trong lịch sử, Mỹ đã tiến hành nhiều cuộc không tập nhưng kết thúc vẫn chỉ là những chiến thắng trên giấy tờ. Cũng không loại trừ khả năng Mỹ có thể bắt đầu bằng một cuộc chiến tranh đường không hạn chế, nhưng sẽ phát triển mạnh hơn bằng giải pháp quyết tiêu diệt lực lượng phòng không của Syria, phá hủy hạ tầng kiến trúc quân sự và dân sự của Syria cho đến khi chính phủ phải đầu hàng như cuộc chiến Nam Tư năm 1999. Dù sao, nhìn từ góc độ quân sự có thể thấy kết thúc cuộc xung đột đẫm máu ở Syria không hẳn đã là kết quả của các đòn tập kích đường không quy mô lớn, mà phụ thuộc chủ yếu vào ý chí, tinh thần của lực lượng quân đội Syria.
Tàu khu trục USS Ramage DDG-61 trên Địa Trung hải
Tàu khu trục USS Ramage DDG-61 trên Địa Trung Hải.  
Ông Obama sẽ tiến hành một cuộc chiến tranh phi tiếp xúc quy mô lớn với một ý nghĩa chính trị to lớn đối với uy tín của Nhà Trắng. Việc giáng một đòn tấn công gây sức ép buộc chính thể của tổng thống Bashar al-Assad mất ưu thế trong cuộc nội chiến sẽ chứng minh cho thế giới biết rằng phương Tây đang đứng về phía lực lượng đối lập. Chiến thắng được đặt ra vẫn không rõ ràng và ẩn chứa nhiều nguy cơ lạc hướng. Tuy nhiên, một cuộc chiến tranh phi tiếp xúc rất khó đạt được các mục tiêu đặt ra: chấm dứt nội chiến và gây chấn động đến rạn nứt sự ổn định của chế độ Damascus, thay đổi cán cân lực lượng để ưu thế thuộc về lực lượng nổi dậy.
Kinh nghiệm chiến tranh hiện đại cho thấy. Hành động can thiệp quân sự phi tiếp xúc hoàn toàn không ảnh hưởng đến vấn đề tình hình nóng bỏng đang leo thang lên một vòng xoáy mới, cũng như các đòn tấn công năm 1998 vào các cơ sở được cho rằng sản xuất vũ khí hóa học của Iraq.
Theo những hành động đang được Washington tiến hành, các mục tiêu đặt ra không được quan tâm đúng mức, nhưng cần thiết phải làm. Mỹ cũng đang cố gắng thực hiện một bước đột phá cho các thỏa hiệp trong Syria. Nhà Trắng hoàn toàn không muốn vấn đề can thiệp quân sự sẽ bị kéo dài, mở rộng và chịu sức ép nặng nề của dư luận. Tiến hành cuộc không kích có giới hạn bằng tên lửa Tomahawk mà không đặt vùng cấm bay cũng không thể giải quyết được những mục tiêu mong muốn.
Tấn công Syria là 'không tránh khỏi'
Theo ý kiến của các chuyên gia quân sự quốc tế, cuộc tập kích sẽ diễn ra vào sau ngày 10.9 . Trước đó, tổng thống Mỹ đã tuyên bố quyết định hành động, nhưng kết luận cuối cùng thuộc về quốc hội.
Hôm nay (3.9), các ủy ban có liên quan đến quân sự - đối ngoại sẽ xem xét dự thảo nghị quyết về Syria. Trên lý thuyết, ngày 10.9 các lực lượng trực chiến của Mỹ ngoài Địa Trung Hải có thế khai hỏa giáng đòn tấn công. Các quan chức cao cấp Washington cho biết hành động can thiệp quân sự có giới hạn có thể tiến hành mà không có sự phê chuẩn của quốc hội. Nhưng trong trường hợp này, ông Obama muốn chia sẻ trách nhiệm. Theo những thông tin điều tra của kênh TV NBS, một nửa số người Mỹ được hỏi tuyên bố chống cuộc can thiệp vũ trang trên quy mô lớn, 42% còn lại đề nghị tấn công, những người còn lại gặp khó khăn khi trả lời.
Trong nội bộ các nước đồng minh cũng không có sự đồng thuận. Quốc hội Anh đã bác bỏ đề nghị can thiệp vũ trang của Thủ tướng Cameron. Ngoài ra một yếu tố nữa cũng ảnh hưởng đến kết quả của chiến dịch quân sự vào Syria. Đó là một đòn tấn công bằng vũ khí hiện đại không có hiệu quả cao lắm trong việc buộc chính thể Syria phải lùi bước, đặc biệt ông Bashar al-Assad đã có thời gian chuẩn bị. Cần một cuộc can thiệp vũ trang tổng lực trên diện rộng, nhưng điều đó hầu như không ai muốn, nhất là khi cuộc chiến tranh ở Afgganistan vẫn chưa kết thúc.
Nhưng chính quyền của ông Obama cũng đang ở thế 'cưỡi lưng cọp' không thể lùi bước. Tổng thống Mỹ đã tuyên bố là phải trừng phạt thì các hoạt động quân sự bắt buộc phải tiến hành. Hơn thế Ngoại trưởng Kerry đã khẳng định rằng lực lượng tình báo Mỹ có căn cứ chứng minh rằng quân đội chính phủ Syria đã tiến hành cuộc tấn công hóa học. Như vậy mọi yếu tố chính trị đều dẫn đến việc phải tấn công, dù tổng thống Nga Putin đã đưa ra những luận cứ cho rằng, đây hoàn toàn là một hành động khiêu khích.
Chiến dịch tấn công quân sự đòi hỏi phải có hiệu quả rất cao và tổn thất ở mức tối thiểu nhất từ phía của lực lượng đồng minh. Các trường hợp như máy bay bị bắn rơi, phi công bị bắt hoặc tên lửa bắn nhầm sang lãnh địa của lực lượng chống đối đều là những trường hợp không thể chấp nhận từ quan điểm chính trị. Một vấn đề quan trọng nữa mà lực lượng đồng minh không nắm chắc như liệu các tổ hợp tên lửa S-300 đáng gờm đã có mặt ở Syria hay chưa? Nếu đã có thì lực lượng đồng minh đang đùa với lửa.
Tình huống hiện nay được nhà phân tích chính trị Fyodor Lukyanov mô tả trên báo Business FM: “Có lẽ có nhiều nghị sĩ, đặc biệt là các nghị sĩ đảng Cộng hòa muốn bác bỏ đề nghị của ông Obama tương tự như quốc hội Anh đã loại bỏ đề nghị của ông Cameron, điều đó chứng minh rằng ông Obama không có đủ năng lực lãnh đạo thực sự. Nhưng rõ ràng uy tín và vị thế của quốc gia vẫn cao hơn và quốc hội có thể sẽ phê chuẩn nghị quyết cho phép tấn công Syria”. 
Cũng có thể nảy sinh một tình huống đặc biệt: Trung Quốc và Nga sẽ gây sức ép đủ mạnh để cuộc can thiệp vũ trang không xảy ra, nhưng cho đến giờ phút này Trung Quốc vẫn im lặng.

Trịnh Thái Bằng
Nguồn: Ria Novosti

HAARP - Vũ khí địa-vật lý của Mỹ

VietnamDefence - Chương trình HAARP của Mỹ: những tác động địa-vật lý và tầng điện ly bí mật
Theo đánh giá của các chuyên gia, tầm quan trọng của bước nhảy vọt về chất lượng trong hệ thống các loại vũ khí dựa trên những nguyên lý vật lý mới có thể sánh với việc chuyển từ vũ khí lạnh sang hỏa khí hay từ vũ khí thông thường sang vũ khí hạt nhân.

Những nguyên lý vật lý mới thường được biết đến và được mô tả trong các cuốn sách giáo khoa, song bản thân “sự mới mẻ” này được quy định bởi tính chất đầu tiên của việc ứng dụng các “hiệu ứng”, “đặc tính” hay “quy luật” vào các loại kỹ thuật hay vật liệu ứng dụng quân sự mới (sinh học, hóa học, điều khiển tâm lý, thông tin, địa-vật lý...).

Những người đặt nền móng cho việc chế tạo vũ khí địa-vật lý hiện đại là các nhà vật lý vô tuyến điện. Hệ thống HAARP (High Frequency Active Auroral Research Program) của Mỹ là một hệ thống như vậy. Điểm khác biệt của vũ khí địa-vật lý mới là sử dụng môi trường gần trái đất làm thành phần cấu thành và đối tượng tác động hủy diệt đối với đối phương.

Những thử nghiệm đầu tiên của vũ khí vật lý vô tuyến điện và địa-vật lý mới của Mỹ theo chương trình HAARP cho thấy khả năng to lớn của nó. Bằng cách gia tăng công suất, hệ thống cho phép phong tỏa liên lạc vô tuyến điện, loại khỏi vòng chiến thiết bị điện tử trên khoang của tên lửa, máy bay và vệ tinh trên vũ trụ, gây ra những sự cố quy mô lớn trong các lưới điện và trên các tuyến đường ống dẫn dầu, dẫn khí đốt, tác động xấu tới trạng thái tâm lý và tình trạng thể chất của con người...

Nhược điểm chính ở đây là vũ khí này không thể coi là vũ khí chính xác cao. Đồng thời, việc giới quân sự và các cơ quan đặc vụ sử dụng các đặc điểm hành tinh phức tạp của cấu tạo trái đất và các trường điện từ của trái đất cho phép tạo ra loại vũ khí hủy diệt lớn.

Điều thú vị là những thiết bị vật lý vô tuyến điện công suất lớn đầu tiên của Mỹ dùng để tác động tới các tầng trên của khí quyển, nung nóng nó và điều tiêu “tia chết” vào những khu vực địa lý nhất định đang được xây dựng sao cho 3 cỗ máy đầu tiên sẽ tạo ra một vòng tròn khép kín bao trùm chính nước Nga. Một trạm được đặt tại Alaska, hai trạm khác bố trí ở Greenland và Nauy. 
Thao túng các bí mật của vũ khí khí hậu, Mỹ sẽ có thể trừng phạt các quốc gia ngang ngạnh bằng cách đưa các cơn bão hủy diệt hay nạn hạn hán dài nhiều tháng đến với họ
Các nguyên lý vật lý của vũ khí vật lý vô tuyến điện được luận cứ từ đầu thế kỷ XX bởi nhà vật lý thiên tài Nikola Tesla. Nhà bác học này đã xây dựng các phương pháp truyền điện năng qua môi trường tự nhiên đi qua bất kỳ khoảng cách nào. Tiếp đó là việc hoàn thiện lý luận và tiến hành các thí nghiệm đã xác nhận khả năng tạo ra “các tia chết” tự lan truyền qua khí quyển hay mặt đất và điều tiêu nó vào khu vực cần thiết trên địa cầu.

Dự án đó của Mỹ trong thập niên 1960 có tên gọi HAARP (High Frequency Active Auroral Research Program). Các công trình nghiên cứu cơ bản của N. Tesla được Mỹ che giấu trong nhiều năm với thế giới khoa học và công luận nhằm che giấu nguồn gốc các dự án nghiên cứu mật có tên gọi “Chiến tranh giữa các vì sao”, “Sáng kiến phòng thủ chiến lược” (SDI)…

Xin trích dẫn từ một bài báo trên tờ New York Times ngày 22.9.1940: “Nikola Tesla, một trong những nhà phát minh thực sự vĩ đại, ngày 10.7 đã kỷ niệm sinh nhật thứ 84 của mình, đã kể với tác giả rằng, ông sẵn sàng thông tin cho chính phủ Hoa Kỳ bí mật “tác động qua khoảng cách” mà nhờ đó, như ông nói, có thể làm nóng chảy các máy bay và ô tô ở khoảng cách 400 km, và bằng cách đó xây nên một vạn lý trường thành phòng vệ vô hình xung quanh đất nước”.

Đầu thập kỷ 1960, những nguyên lý mới sử dụng điện khí quyển của nhà vật lý W. Richmond theo sáng kiến của các chuyên gia quân sự chính phủ Mỹ đã được đóng dấu mật.

Ngay những thử nghiệm đầu tiên đã cho thấy khá năng kích thích nhiều loại thiên tai trên trái đất. Năm 1998, thiết bị đầu tiên của Mỹ Arfa  đã được đưa vào hoạt động tại Alaska (gần thành phố Anchorage).

Theo các chuyên gia, công suất của vũ khí này cao hơn nhiều lần công suất của một trái bom nguyên tử.

Về mặt triết học nói chung, tiến trình lịch sử văn minh đang đi tới một trật tự thế giới mới dưới sự lãnh đạo của một chính phủ thế giới. Những thành tựu tiến bộ KHKT mới nhất (kỹ thuật, vật lý vô tuyến điện, kỹ thuật gene...), một bộ phận trong đó được bảo mật gắt gao, hoàn toàn cho phép bằng con đường ép buộc với sự tham gia của giới quân sự và các cơ quan đặc vụ đạt được các mục tiêu toàn cầu hóa chính trị và kinh tế.

Đang dẫn đầu trong quá trình địa-chính trị này là nước Mỹ, nơi mà Nikola Tesla đã làm việc nhiều năm và sáng tạo của ông có định hướng quân sự và được kịp thời giữ bí mật.

Ngay vào năm 1900, Tesla đã nộp đơn đăng ký sáng chế (patent) thiết bị “truyền điện năng trong môi trường tự nhiên” (Patent do Mỹ cấp năm 1905 số №787.412).

Năm 1940, Tesla công bố về việc tạo ra “tia chết”.

Năm 1958, đã khám phá ra các đới bức xạ của trái đất chứa đầy những hạt mang điện bị từ trường của trái đất đang tự quay bắt giữ được.

Năm 1961, xuất hiện ý tưởng tạo ra các đám mây ion nhân tạo và sau đó dẫn hướng bằng các tia cộng hưởng điện từ anten trong plasma vũ trụ.

Năm 1966, Gordon J. MacDonald công bố khái niệm ứng dụng quân sự của công nghệ thời tiết.

Năm 1974, các thí nghiệm có mục đích được tiến hành với việc truyền điện từ trong khuôn khổ chương trình mới HAARP của Mỹ ở Paletteville (Colorado), Arecibo (Puerto Rico) và Armidale (New South Wales, Australia).

Năm 1975, việc nghiên cứu kỹ thuật siêu cao tần và chế tạo vũ khí điều khiển tâm lý được đẩy mạnh.

Năm 1980, Bernard J. Eastlund, chuyên gia phát triển HAARP, nhận được bằng sáng chế “Phương pháp và thiết bị để làm thay đổi các tầng khí quyển trái đất, tầng điện ly (tầng ion) và/hoặc từ quyển” và sau đó đăng ký patent một loạt phát minh và sáng chế khác.

Năm 1980, Bộ Quốc phòng Mỹ bắt đầu xây dựng mạng lưới GWEN (mạng lưới tạo sóng trên bề mặt trái đất trong các tình huống khẩn cấp) có khả năng chuyển phát các sóng tần số cực thấp có mục đích quốc phòng.

Năm 1985, nhà vật lý lỗi lạc Mỹ Bernard J. Eastlund đăng ký sáng chế “Phương pháp và kỹ thuật tác động đến một khu vực khí quyển trái đất, tầng điện lý và từ quyển” (patent đầu tiên trong 3 patent cơ bản của tác giả).

Năm 1994, nhà thầu quân sự lớn E-Systems mua lại quyền sử dụng các patent của Eastlund và bắt đầu thực hiện hợp đồng quân sự xây dựng giá thử nung nóng tầng điện ly Arfa lớn nhất thế giới tại Alaska. Năm 1995, hợp đồng chuyển sang tay tập đoàn quân sự lớn nhất của Mỹ Raytheon.

Năm 1995, Quốc hội Mỹ thông qua ngân sách để bắt đầu khai thác HAARP. Bắt đầu các thử nghiệm HAARP quy mô về dẫn các chùm năng lượng tập trung vào các khu vực khác nhau của địa cầu.

Năm 1998, đưa HAARP vào sử dụng (thông tin về hoạt động của nó là thông tin mật).
Các nhân vật cầm đầu Lầu Năm góc có thể biết những bí mật của vũ khí khí hậu
Bản chất của công nghệ quân sự do người Mỹ phát triển là như sau. Phía trên tầng ozon có một tầng điện ly mỏng manh - là một tầng khí chứa nhiều hạt mang điện, gọi là các ion. Tầng điện ly có thể nung nóng bằng các anten của HAARP.

Tiếp đó có thể tạo ra các đám mây ion nhân tạo có hình thức giống như các thấu kính quang học. Các thấu kính này có thể sử dụng để phản xạ các sóng tần số thấp và để tạo ra “tia chết” mang năng lượng được điều tiêu vào những khu vực địa lý đã định.

Theo khẳng định của nhiều nguồn tin, việc nghiên cứu các hậu quả về quân sự, y học, sinh thái và các hậu quả tác động khác của HAARP đang được Không quân và Hải quân Mỹ tiến hành mà không có sự tham gia của Cơ quan Bảo vệ môi trường xung quanh (ERA) của Mỹ. Tuy nhiên, đây là thông tin đáng ngờ, bởi lẽ tất cả các bộ, ngành liên bang đều tham gia vào các hoạt động liên quan đến quốc phòng và bảo vệ an ninh quốc gia Mỹ dưới sự che chắn của luật về bí mật nhà nước.

Tính bí mật của thông tin nhận được có mục đích làm giảm sự chống đối của dư luận thế giới và các phong trào bảo vệ sinh thái.

Chúng ta đã biết đến sự việc khi mà trong một thí nghiệm người ta đã thả 350.000 mũi tên đồng dài 1-2 cm vào tầng điện ly vào năm 1961, thì tại Alaska đã xảy ra động đất 8,5 độ Richter. Đồng thời, một phần lớn bờ biển Chile bị trôi ra đại dương.

Vào cuối thập kỷ 1980, ở Bắc Alaska người ta ráo riết xây dựng 360 ngọn tháp cao 24 m cho giới quân sự Mỹ sử dụng để phát xạ các chùm năng lượng mạnh có tần số khác nhau vào tầng điện ly. Người ta cũng dự định thiết lập một mạng lưới các trung tâm khu vực của HAARP.

Tất cả những điều đó sẽ cho phép tạo ra plasmoid quân sự (các vùng khí ion hóa cao). Cấu trúc giống như sét hòn này có thể điều khiển bằng cách dịch chuyển tiêu điểm của các anten nhờ tia laser kết hợp.

Có thể dẫn ra hàng loạt patent về dự án này:

- 5.068.669 “Hệ thống truyền năng lượng nhờ bức xạ”;
- 5.041.834 “Màn chắn tầng điện ly nhân tạo được tạo ra bởi lớp plasma”;
- 4.999.637 “Tạo các vùng ion hóa nhân tạo bên trên bề mặt trái đất”;
- 4.973.928 “Các vụ nổ cấp độ vụ nổ nguyên tử không kèm theo phát thải các vật liệu phóng xạ”.

Trong quá trình các thí nghiệm ở Mỹ, đã phát hiện ra rằng, tham gia vào quá trình tạo các plasmoid có năng lượng tự do hoặc năng lượng chân không vật lý. Những cấu trúc nhân tạo này có thể sử dụng để phản xạ các sóng tần số thấp và để tạo ra “tia chết” mang năng lượng được điều tiêu vào các điểm địa lý đã định. Như vậy, chương trình vật lý vô tuyến điện HAARP chính là một vũ khí địa-vật lý khủng khiếp mới.

Vũ khí địa-vật lý khí quyển được chia thành 3 loại chính: vũ khí khí tượng (mưa, bão, tố…), vũ khí ozon (tác động sát thương trực tiếp các cơ thể sống bằng bức xạ cực tím của mặt trời) và vũ khí khí hậu (giảm năng suất nông nghiệp của kẻ địch quân sự hay địa-chính trị).

Việc bắt đầu các thí nghiệm khoa học với mục đích quân sự đang được thảo luận trong giới khoa học thế giới, nhất là các nhà địa-vật lý và sinh học. Điều đặc biệt là việc các nhà khoa học châu Âu đã ghi nhận khả năng thực hiện các cuộc đánh phá bí mật vật lý vô tuyến điện (hạn hán, mưa rào, bão tố) chống các nước EU.

Ủy ban của EU về các vấn đề an ninh và giải trừ quân bị ngày 5.2.1998 đã tiến hành các cuộc tọa đàm đặc biệt về dự án Arfa, có sự tham gia của nhiều đại biểu Duma Quốc gia Nga, cũng như một trong những đối thủ chính của dự án này ở Mỹ là nhà khoa học kiêm chính trị gia bang Alaska Nick Begich.

Cuốn sách của ông này và đồng tác giả là nữ nhà báo Canada J. Manning đã được dịch và xuất bản ở Nga (Begich N, Manning J. Chương trình HAARP. Vũ khí của ngày tận thế (dịch từ tiếng Anh).-М.: Yauza, Eksmo, 2007, 384tr.).

Quãng cách thời gian giữa 2 ấn bản tiếng Anh và tiếng Nga này là 5 năm. Tuy nhiên, những số liệu được các tác giả nêu ra cho phép đánh giá rất đầy đủ và khoa học về triển vọng của hệ thống vũ khí quân sự địa-vật lý và điều khiển tâm lý của Mỹ.

Hiện nay lại bùng lên sự quan tâm mới đối với thông tin bí mật về chủ đề sinh học và bảo vệ thiên nhiên của toàn thế giới và Nga là hoàn toàn có cơ sở. Cũng có những phương án khác nhau để đưa ra các biện pháp “bảo vệ” hay “tiến công”.

Để hiểu rõ hơn vấn đề này, ta nên đọc cuốn sách mới của Begich và Manning “Chương trình HAARP. Vũ khí ngày tận thế”.

Các tác giả nhấn mạnh những khó khăn lớn trong quá trình chế tạo một hệ thống như vậy và lên án sự tiến bộ của vũ khí và kỹ thuật quân sự. 3 cỗ máy đầu tiên với công suất bức xạ sóng vô tuyến định hướng gần 1 tỷ W đã được xây dựng ở Alaska, Greenland và Nauy. Chúng tạo ra vòng tròn khép kín để tác động quy mô lớn đến môi trường gần trái đất среду, trước hết nhằm vào Nga, cũng như Trung Quốc và EU.

Việc sử dụng thê đội đầu tiên của hệ thống quân sự “3 điểm” sẽ cho phép: phá vỡ việc dẫn đường hàng hải và hàng không của máy bay và tên lửa; làm gián đoạn liên lạc vô tuyến và radar; làm hư hỏng thiết bị điện tử trên khoang của các vệ tinh trên vũ trụ; kích thích xuất hiện các sự cố quy mô lớn trong các lưới điện; gây ra các bão, giông tố, hạn hán, vòi rồng và lũ lụt và cuối cùng là tác động có định hướng nhằm vào tâm thần con người. Tiếp đó, bằng các cỗ máy đó, Lầu Năm góc sẽ bao quát một phần lớn trái đất, điều thể hiện sức mạnh tư duy quân sự Mỹ.

Một độc giả quân sự Nga giàu kinh nghiệm dĩ nhiên không thể chấp nhận hoàn toàn tất cả các lập luận của các nhà hòa bình Mỹ.

Tuy vậy, chính giới quân sự Mỹ nói ra chức năng “lưỡng dụng” của hệ thống. Ví dụ, việc hoàn thiện hệ thống tác động địa-vật lý đối với các tầng cao của khí quyển (đến 50 km) có thể dẫn tới việc loại bỏ khái niệm “hạn hán nhiều tháng ”. Kết quả là có thể gây ra những cơn mưa thường xuyên trên sa mạc Sahara ở Bắc Phi.

Có thể thừa nhận sự nguy hiểm hiển nhiên của các thí nghiệm khoa học bí mật mà người Mỹ bắt đầu. Về mặt này, EU, Nga, Trung Quốc có quyền yêu cầu tiến hành các cuộc đàm phán quốc tế nhằm hạn chế công suất các bức xạ vô tuyến “khoa học”.

Bản thân các nhà thiết kế hệ thống HAARP thừa nhận rằng, ngoài các tác động nhiệt và điện tử lên khí quyển trái đất và tầng điện lý của nó nhằm điều khiển thời tiết hay kích thích những thảm họa thiên nhiên tàn phá, còn có thể tác động đến não và hệ thống thần kinh của con người và làm thay đổi tâm lý và hành vi của họ.

Sự tác động định hướng tâm lý thể chất có thể gây ra ở người kìm hãm các phản ứng, mất tin tưởng, sự sợ hãi, sự giận dữ, mất cảm giác tự vệ, mất khả năng kiểm soát hành vi của mình, đánh giá và phân tích các tình huống phức tạp trong cuộc sống, định hướng về thời gian và không gian… Tất cả những điều đó đều có thể sử dụng để tác động cục bộ hay quy mô hàng loạt.

Vũ khí điều khiển tâm lý được liệt vào loại vũ khí “không gây tử vong” (“phi sát thương”) đang ngày càng quan trọng trong tiến hành các chiến dịch quân sự, cũng như các chiến dịch đặc biệt nhằm tác động đến hành vi của các nhóm dân chúng lớn nhỏ.

Một câu châm ngôn hay nói rằng: “Một thiên tài quân sự và những sự độc ác không chỉ tương hợp mà còn không thể tồn tại thiếu nhau”. Các nhà khoa học của ngành công nghiệp nguyên tử Nga rất lo lắng trước nguy cơ đang gia tăng của vũ khí điều khiển tâm lý.

Trong một cuốn sách được chuẩn bị có sự tham gia của Tổng biên tập “Báo Khoa học nước Nga” xuất bản А. Emelyanenkov và xuất bản dưới dạng phụ trương của tờ “Báo Nước Nga” viết về nhà vật lý Nga lỗi lạc Lev Feoktistov (14.2.1928-14.2.2002) “Những người sáng tạo ra kỷ nguyên hạt nhân. Lev và nguyên tử.-М.: Voskresenie, 2003, 440tr., có minh họa) có một đoạn thú vị về loại vũ khí hậu hạt nhân mới.

Giám đốc Trung tâm các vấn đề an ninh năng lượng hạt nhân (Trung tâm Hạt nhân Liên bang-Viện nghiên cứu vật lý kỹ thuật toàn Nga, RFYaTs-VNIITF) Aleksandr Shcherbina trong tiểu luận “Vũ khí dành cho nó đã chật chội” trả lời các câu hỏi của một nhà biên soạn cuốn sách này:

- Vũ khí thế kỷ XXI có thể dựa trên những nguyên lý nào? Hay là nó hoàn toàn có thể không phải là vũ khí?

- Tôi nghĩ rằng, đó là tác động đến tâm thần. Hay là những tác động gượng nhẹ nào đó.

- Nghĩa là tác động phi sát thương?

- Nhìn chung thì đúng vậy. Ít ra là để có thời gian chụp còng tay vào cổ tay. Đồng thời thể hiện cho những người khác để họ không còn săn tìm cách để khủng bố mọi người” (trang 137).

Nhà vật lý của Viện nghiên cứu vật lý kỹ thuật toàn Nga (thành phố Chelyabinsk-70) đánh đúng vào điểm “vật lý vô tuyến điện”. Chương trình quân sự Mỹ có tên HAARP đang thâu tóm sức mạnh công nghệ mới.

Nếu không nói về bản thân HAARP mà nói về cuốn sách súc tích và hấp dẫn của các tác giả Mỹ thì cần phải nói rằng, đó quả thực là một tác phẩm hay gần gũi với các báo cáo phân tích của các chuyên gia tình báo KHKT, trong đó chiếm vị trí quan trọng là sự phân tích tỷ mỉ những sưu rò rỉ thông tin mật, cũng như các ấn phẩm KHKT định kỳ công khai.

Lịch sử khoa học cho thấy rằng, nhiều công trình nghiên cứu và dự án phát triển mật (trong đó có ở Mỹ), một mặt, rất nguy hiểm đối với môi trường thiên nhiên trái đất, nhưng mặt khác đó là phương tiện quân sự hay đặc biệt căn bản để giải quyết những vấn đề xã hội văn minh quan trọng của quá trình quá độ sang “sự phát triển bền vững” của nhân loại.

Sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật không thể dừng được, nhưng ở các phương diện toàn cầu, nó đòi hỏi sự kiểm soát của quốc tế, nghị viện và xã hội.

Thứ Năm, 8 tháng 8, 2013

Mỹ bày trận quanh Trung Quốc như đối phó Liên Xô

TPO - Tư lệnh không quân Mỹ ở khu vực Thái Bình Dương tiết lộ, giống như đối phó với Liên Xô năm xưa, Mỹ sẽ đưa các đơn vị tác chiến tinh nhuệ trực chiến quanh Trung Quốc để bao vây nước này.
Chiến tranh lạnh mới
Hôm nay (7-8), tờ Liên hợp Buổi sáng Singapore có bài viết nêu rõ đối với Mỹ trong cuộc đấu tranh tranh giành quyền kiểm soát ở khu vực Tây Thái Bình Dương, sự phát triển của sức mạnh kinh tế và quân sự của Trung Quốc đã trở thành “mâu thuẫn chủ yếu”. Còn việc thế lực cánh hữu Nhật Bản thoát khỏi những ràng buộc về hiến pháp và phát triển quân sự chỉ là “mâu thuẫn thứ yếu”.
Ngày 29-7, Thượng viện Mỹ nhất trí thông qua một nghị quyết khiển trách Trung Quốc “đe dọa và sử dụng vũ lực” ở khu vực gần đảo Điếu Ngư và Biển Đông. Nghị quyết này đã lấy sự kiện hồi tháng 1-2013, tàu chiến Trung Quốc chĩa radar hỏa lực vào tàu hộ vệ của Lực lượng phòng thủ trên biển Nhật Bản làm bằng chứng và chỉ ra rằng cục diện ở hải vực xung quanh Trung Quốc đang có xu thế nóng lên. Đồng thời nhấn mạnh hoạt động hàng hải tự do ở hải vực phía Tây Thái Bình Dương liên quan chặt chẽ đến lợi ích quốc gia của Mỹ.
60% binh lực Mỹ được điều động sang châu Á-Thái Bình Dương theo chiến lược xoay trục. Ảnh: Tiêm kích tàng hình F-35 phiên bản cất/hạ cánh thẳng đứng trên hạm của hải quân Mỹ.
60% binh lực Mỹ được điều động sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương theo chiến lược xoay trục. Ảnh: Tiêm kích tàng hình F-35 phiên bản cất/hạ cánh thẳng đứng trên hạm của hải quân Mỹ..
Không chỉ dừng ở đó, cùng ngày tạp chí Foreign Policy của Mỹ đưa tin, tướng Herbert “Hawk” Carlisle, tư lệnh không quân Mỹ ở khu vực Thái Bình Dương tiết lộ: Cũng giống như đối phó với Liên Xô năm xưa, không quân Mỹ sẽ đưa các đơn vị tác chiến tinh nhuệ trực chiến luân phiên ở khu vực xung quanh Trung Quốc để bao vây nước này. Những lời phát biểu trên gần như đã mở màn cho cuộc chiến tranh lạnh mới. Mùi thuốc súng đang ngày càng lan tỏa ở khu vực bầu trời phía Tây Thái Bình Dương.
Tháng 6-2013, khi nguyên thủ Mỹ và Trung Quốc có buổi nói chuyện tại trang trại ở bang California, tổng thống Obama đã thẳng thắn yêu cầu ông Tập Cận Bình cần “kiềm chế” khi giải quyết những tranh chấp xảy ra với các nước láng giềng. Sau đó, Trung Quốc liên tục cử tàu thuyền công vụ tuần tra, ra uy ở hải vực xung quanh đảo Điếu Ngư/Senkaku khiến tình hình ngày một căng thẳng.
Hạm đội Thái Bình Dương hùng mạnh của Mỹ với ngôi sao là tàu sân bay Gorges Washington, theo sau là các tàu đổ bộ cỡ lớn lớp Wasp với phi cơ cánh xoay
Hạm đội Thái Bình Dương hùng mạnh của Mỹ với 'ngôi sao' là tàu sân bay Gorges Washington, theo sau là các tàu đổ bộ cỡ lớn lớp Wasp với phi cơ cánh xoay "Ưng biển' V-22 trên boong, các tàu tuần dương Ticonderoga, khu trục hạm tên lửa lớp Aegis...luôn sẵn sàng ứng phó với tình hình bất trắc.
Liên hợp Buổi sáng phân tích, trước đây Thượng viện Mỹ hiếm khi đưa ra những nghị quyết tương tự. Mặc dù nghị quyết này không có tính ràng buộc đối với chính phủ Mỹ, nhưng đã phản ánh sự lobby của nội các thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe ít nhất đã gặt hái được thành công trong quốc hội Mỹ, ngoài ra cũng thể hiện dụng ý “cảnh cáo” của Mỹ với Trung Quốc. Lời phát ngôn của tướng Carlisle cũng cho thấy những tuyên bố liên quan đến chính sách “trở lại châu Á” của Mỹ không phải đưa ra một cách ngẫu nhiên mà có bối cảnh quân sự rõ nét.
'Tấn công phủ đầu'
Cùng với đó, bản báo cáo giữa nhiệm kỳ mà Bộ quốc phòng Nhật Bản công bố cách đây không lâu để xây dựng Đại cương chương trình phòng thủ phiên bản mới đặc biệt thu hút sự chú ý của dư luận. Theo đề cương của bản báo cáo này, để tăng cường hoạt động giám sát, cảnh giới nhằm vào hướng đảo Điếu Ngư/Senkaku và chương trình tên lửa hạt nhân của Triều Tiên, Nhật “buộc phải tăng cường trang bị vũ khí”. Chính vì thế Nhật phải xem xét đến khả năng tấn công phủ đầu, bao gồm các biện pháp như mua máy bay không người lái hoạt động ở tầm cao và xây dựng một lực lượng tương tự như lực lượng thủy quân lục chiến.
Với tư cách là phương châm chỉ đạo cho chính sách quốc phòng của Nhật Bản, Đại cương chương trình phòng thủ này sẽ được áp dụng trong 10 năm tới. Cuối năm 2010, chính quyền đảng Dân chủ đề ra Đại cương chương trình phòng thủ phiên bản mới, hướng phòng thủ trọng điểm từ Bắc chuyển sang Nam, tức từ phía Liên Xô trong Chiến tranh lạnh chuyển sang hướng các hòn đảo phía Tây Nam.
Tàu sân bay Huyga của Nhật có thể sớm được trang bị tiêm kích tàng hình F-35 phiên bản hải quân. Nhật cũng vừa hạ thủy thêm một tàu sân bay mới toanh loại này.
Tàu sân bay Huyga của Nhật có thể sớm được trang bị tiêm kích tàng hình F-35 phiên bản hải quân. Nhật cũng vừa hạ thủy thêm một tàu sân bay mới toanh loại này..
Hạm đội hùng hậu của hải quân Nhật
Hạm đội hùng hậu của hải quân Nhật.
Liên hợp Buổi sáng cho rằng mấy chục năm qua, thế lực cánh hữu Nhật Bản luôn tìm cách phá vỡ những hạn chế của điều 9 trong hiến pháp hòa bình. Họ chủ trương trong tình huống ý đồ tấn công Nhật Bản của các nước đối địch rõ ràng, cấp bách và không còn sự lựa chọn phòng thủ nào khác, Nhật Bản cần có quyền chủ động tấn công căn cứ quân sự của nước đối địch. Mặc dù bản báo cáo giữa nhiệm kỳ do nội các tổng thống Shinzo Abe biên soạn này chưa nêu rõ Nhật Bản sẽ tìm kiếm khả năng tấn công phủ đầu “căn cứ quân sự của nước đối địch”, nhưng chính sách quốc phòng của Nhật Bản cũng đã thể hiện rõ xu thế thay đổi mang tính căn bản này. Vì bản báo cáo trên đã nhấn mạnh Nhật Bản có quyền “đánh đòn phủ đầu” trong chiến tranh nên đã thể hiện rõ xu thế Nhật Bản phá vỡ những hạn chế trong điều 9 của hiến pháp hòa bình. Điều này khiến cho các nước châu Á, nhất là Trung Quốc đặc biệt lo ngại.
Trung Quốc với tư cách là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, đang ép sát vị thế số một thế giới của Mỹ, nhất là chương trình phát triển hải quân của PLA đặc biệt thu hút sự chú ý của dư luận. Trong tương lai chắc chắn sẽ tranh giành quyền kiểm soát khu vực Tây Thái Bình Dương với hải quân Mỹ, từ đó trở thành “mâu thuẫn chủ yếu” mà Mỹ buộc phải đối mặt trong một tương lai có thể dự đoán. Còn việc thế lực cánh hữu Nhật Bản có ý đồ thoát khỏi sự ràng buộc của điều 9 trong hiến pháp hòa bình chỉ là “mâu thuẫn thứ yếu” mà thôi.
Theo một quan chức của lực lượng phòng vệ trên không của Nhật Bản, trên thực tế Mỹ không lo ngại sự trỗi dậy của chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản sẽ trở thành mối đe dọa đối với Mỹ. Hiện Nhật Bản có khoảng hơn 500 trạm biến áp điện quan trọng, Mỹ hoàn toàn kiểm soát vai trò của các trạm biến áp này trong mạng lưới điện quốc gia của Nhật Bản và có kinh vĩ độ cụ thể của các trạm biến áp này. Nếu có biến, Mỹ chỉ cần phát động cuộc tấn công thường quy đối với các trạm biến áp nằm ở khu vực dài và hẹp như Osaka, Kyoto, Kobe, Tokyo... là đã có thể đánh quỵ ngành công nghiệp kỹ thuật của Nhật Bản, thậm chí đưa Nhật Bản trở về với cảnh ngộ của 100 năm về trước. Chính vì thế, Mỹ không cần quan tâm đến mối đe dọa hạt nhân, đồng thời cũng không lo ngại Nhật Bản sẽ thách thức vị thế chủ đạo của hải quân Mỹ tại khu vực phía Tây Thái Bình Dương.

Huy Long (Theo Liên hợp Buổi sáng- Singapore)

Báo Nga: Trung Quốc tung 'đòn Tôn Tử' ở biển Đông

TPO - Chuyên gia Nga nhận định trong 4 -5 năm tới, Trung Quốc không có khả năng tiến hành chiến tranh mà chỉ sử dụng đội quân tàu cá, du lịch,  ngư chính, hải giám làm chủ công để lấn chiếm, tranh đoạt...
Năm 2012 một sự kiện lớn trong chiến lược hải dương của Trung Quốc đã hình thành, đó là việc thử nghiệm thành công tàu sân bay Liêu Ninh. Sự kiện này gây sự chú ý và bàn luận khắp thế giới. Cùng với việc phục sinh một tàu sân bay cũ của Liên Xô, Trung Quốc tăng cường tuyên bố chủ quyền của mình trên hầu hết Biển Đông, nhưng lực lượng tiên phong chủ lực nhằm thực hiện mục đích thống trị vùng nước này lại không nằm trong hải quân.
Vài tháng gần đây, Trung Quốc đã thực hiện một kế hoạch tham vọng và thâm sâu hơn nhiều so với các tàu chiến khổng lồ đang hiện diện trên Biển Đông. Kế hoạch thể hiện một nỗ lực giành giật quyền làm chủ trên những vùng nước và hải đảo tranh chấp – sử dụng tàu du lịch với hàng nghìn du khách, được chính quyền Trung Quốc cho phép thực hiện các chuyến du lịch trên các hòn đảo đang có những đòi hỏi về chủ quyền của các nước láng giềng. Sử dụng tàu du lịch có tải trọng lớn và rất nhiều các loại tàu khác, Trung Quốc đang thực hiện mưu đồ khẳng định chủ quyền của mình tại những vùng tranh chấp trên Biển Đông.
Từ năm 1950, các bản đồ của Trung Quốc đưa ra 9 đoạn vạch dài dọc theo bờ biển Trung Quốc và tất cả các nước trong khu vực Đông Nam Á, từ đó đòi hỏi xác lập quyền độc chiếm Biển Đông của mình. Giải thích tính đúng đắn của đường 9 đoạn đó, người Trung Quốc đưa ra những luận chứng không đồng nhất, không có căn cứ lịch sử và hoàn toàn mâu thuẫn lẫn nhau, không dựa trên bất cứ một căn cứ pháp lý quốc tế nào.
Tàu sân bay Liêu Ninh
Tàu sân bay Liêu Ninh.

Những tuyên bố về đường hải giới chủ quyền đó vào thời điểm ấy không được công luận thế giới cho rằng là một điều nghiêm túc. Nhưng đến năm 2009, cùng với việc biểu dương tiềm lực quân sự hùng hậu của mình, Trung Quốc đệ trình Liên Hợp quốc bản đồ 'lưỡi bò' nhận sở hữu tất cả những khu vực tranh chấp với các nước láng giềng mà Trung Quốc khẳng định là “chủ quyền không thể tranh cãi”. 
Hàng loạt sự cố xảy ra trên Biển Đông, với sự tham gia của 'đội quân' hùng hậu gồm tàu cá trọng tải lớn, tàu ngư chính và hải giám, cùng với những lời tuyên bố quyết liệt và mang tính khiêu khích từ tháng 7.2010 đến nay. Sau hàng loạt va chạm với Nhật Bản, Philipines và các nước khác đã dẫn đến việc ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton phải kêu gọi giải quyết tranh chấp bằng con đường hòa bình.
Trung Quốc đáp trả bằng cách liên tiếp gia tăng các hoạt động của các cơ quan quản lý biển cấp nhà nước và tung ra nhiều thủ đoạn khác. Họ đã liên kết phối hợp cơ quan cảnh sát biển thuộc Bộ công an và các cơ quan quản lý địa phương, trước hết là cơ quan do họ dựng lên một cơ quan hành chính (thành phố Tam Sa) và những cơ quan quản lý bờ biển gần với đảo Hải Nam, đồng thời người Trung Quốc tăng cường phát triển lực lượng hải quân và không quân hải quân làm phương tiện răn đe và sẵn sàng cho cuộc xung đột không chủ ý.
Chiến thuật 'biển tàu cá'
Hàng không mẫu hạm đầu tiên của Trung Quốc lộ diện lôi cuốn được sự chú ý của tất cả thế giới. Người ta nghĩ đến những tập đoàn không quân hải quân tấn công sẽ xuất hiện trên Biển Đông và Ấn Độ Dương, đến những cuộc chiến tranh chớp nhoáng và tổng lực. Nhưng trong tương lai gần, tàu sân bay Liêu Ninh sẽ chỉ làm nhiệm vụ đơn thuần là phục vụ huấn luyện không quân hải quân, chứ không phải là một đơn vị chiến đấu trong một lực lượng hải quân viễn chinh. Tuy nhiên lực lượng cảnh sát biển với rất nhiều phương án sử dụng và thể hiện quyền lực trên biển lại là một vấn đề hoàn toàn khác với những nguy cơ lớn hơn rất nhiều.
Sự phát triển của lực lượng này được phóng viên tờ báo The Los Angeles Times khẳng định. Ví dụ, từ năm 2000 lực lượng quân sự Trung Quốc đã chuyển bàn giao cho các cơ quan hành pháp biển 11 tàu quân sự nhằm tăng cường năng lực giám sát. Bản thân lực lượng Hải giám Trung Quốc cũng tự đóng 13 chiếc và sẽ tăng cường lên đến 36 chiếc đóng mới.
Lực lượng ngư chính của Trung Quốc cũng tiếp nhận các tàu quân sự, có sân đậu cho máy bay trực thăng. Các tàu ngư chính, hải giám đã nhanh chóng được đưa vào sử dụng và có mặt liên tục trên Biển Đông. Lực lượng hải quân hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ xác định cho đến nay tính từ năm 2008, số lượng các tàu tuần biển của cảnh sát biển Trung Quốc đã tăng gấp 3 lần.
Các tàu đánh cá Trung Quốc tại đảo Hải Nam, so  với người trên thuyền thấy rõ được các tàu cá của Trung Quốc có lượng giãn nước khá lớn
Các tàu đánh cá Trung Quốc tại đảo Hải Nam, so với người trên thuyền thấy rõ được các tàu cá của Trung Quốc có lượng giãn nước khá lớn.
Chuyên gia Hải quân Mỹ, ông James Funnell đã viết trong một bài đăng trên tờ Times đã nhận xét: Các tàu tuần biển Trung Quốc không có mục đích gì khác ngoài mục đích uy hiếp, đe dọa các nước láng giềng trên Biển Đông, buộc họ phải tuân thủ và phục tùng những yêu sách ngang ngược, phi lý của mình”. Họ sẵn sàng với những hành động cực đoan như cắt cáp tàu thăm dò hải dương của tàu khoa học Việt Nam, tấn công đe dọa các tàu đánh cá có lượng giãn nước nhỏ của các nước láng giềng.
Các tàu cá Trung Quốc có lượng giãn nước lớn cũng sẵn sàng tham gia chống lại các lực lượng cảnh sát biển của các nước láng giềng, đơn cử như với Nhật Bản ở quần đảo Senkaku và với Hàn Quốc, họ cũng không ngại ngần truy đuổi và tấn công cả các tàu quân sự Mỹ. Khi gặp phải sự phản kích và ngăn chặn từ phía bên kia, họ yêu cầu các tàu hải giám, ngư chính hỗ trợ can thiệp. Các tàu của Trung Quốc dù không có sự hiện diện của vũ khí quân sự, nhưng họ được trang bị vòi rồng công suất lớn và các móc sắt. Họ làm cho những ngư dân của các nước láng giềng có cảm giác bất lực và sợ hãi. 
Tính đến thời điểm này, chiến lược “Hồng kỳ rực Biển Đông” và chiến thuật “lấy biển vây bờ” cùng những giải pháp khác phi quân sự của Trung Quốc đã mang lại hiệu quả nhất định. Các ngư thuyền Trung Quốc, với số lượng áp đảo, được sự hỗ trợ của chính quyền đã gây rất nhiều khó khăn và lúng túng cho các nước láng giềng trên biển. Điển hình như vụ bãi cạn Cỏ Mây (Second Thomas), bãi đá ngầm Scarborough. Các cơ quan nghiên cứu biển các nước khu vực Đông Nam Á cũng ghi nhận hiện trạng các ngư thuyền của Trung Quốc đang nỗ lực vét cạn nguồn tài nguyên thủy sản trên vùng nước của các nước láng giềng trên Biển Đông.
Sự phát triển của tư duy “bất chiến tự nhiên thành” bắt nguồn từ binh pháp Tôn Tử, sau đó là tư tưởng chiến tranh nhân dân “lấy nông thôn bao vây thành thị” trong cuộc chiến chống Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch. Nay Trung Quốc lại đem chiến thuật sử dụng số đông nhân sự của ngành ngư nghiệp Trung Quốc, những người có thể lực tốt, được huấn luyện, được hỗ trợ của chính quyền, bao gồm cả năng lực tài chính, được tuyên truyền kỹ lưỡng và họ hoàn toàn tin tưởng không gặp phải sự ngăn chặn đủ mạnh nào trên biển Đông.
Trước chiến lược này, các đồng minh của Mỹ cũng như các nước đang có tranh chấp trên biển với Trung Quốc gặp phải khó khăn rất lớn. Do chính phủ Mỹ đã tuyên bố ”không dùng vũ lực quân sự đối với ngư dân”, vì vậy các đồng minh của Mỹ không thể sử dụng lực lượng vũ trang và khí tài quân sự để ngăn chặn hoặc đối phó với chiến thuật 'biển tàu cá'. Một vài tàu cảnh sát biển cỡ nhỏ khó mà đương cự được đội quân hàng trăm ngư thuyền. Và đằng sau là sự hậu thuẫn của các tàu hải giám, ngư chính có nguồn gốc từ các tàu quân sự.
Từ lâu, Mỹ đã tuyên bố không tham gia vào bất cứ bên nào trong các tranh chấp trên biển, và kiên quyết yêu cầu thực hiện hai nguyên tắc chủ yếu trong ứng xử ở khu vực biển Đông: Một là “tự do hàng hải” hai là “giải quyết những vấn đề tranh chấp bằng phương pháp hòa bình”. Đây chính là điểm yếu trong chính sách đối ngoại chính trị của Mỹ trên Biển Đông. 
Với số lượng vượt trội cả về tàu đánh cá có trọng tải lớn và các tàu hải giám, ngư chính thực chất là các tàu quân sự hoán cải, người Trung Quốc dường như cho rằng đủ sức mạnh và sự tự tin để thống trị Biển Đông. Được sự hậu thuẫn lớn, các ngư dân Trung Quốc thoải mái vơ vét tài nguyên biển và không quá lo lắng đến sự ngăn chặn và trừng phạt của các nước láng giềng khi họ xâm phạm chủ quyền của nước khác hoặc mặc sức ào ạt đổ xuống các vùng nước tranh chấp nhằm thể hiện quyền lực nước lớn. Cho đến hôm nay, có vẻ như Trung Quốc vẫn chơi con bài “du kích ” trên Biển Đông với áp lực từ sức mạnh dân sự ngày càng lớn.
Hai hướng tiến công
Tham vọng độc chiếm và quản lý Biển Đông của Trung Quốc bao hàm nhiều yếu tố, trong đó yếu tố kinh tế đóng vai trò quan trọng ở mức sống còn. Những năm 1990-x, chỉ có Mỹ và Nhật Bản là những đối tác kinh tế quan trọng của khu vực Đông nam Á. Nhưng hiện nay Trung Quốc đang là đối tác thương mại và đầu tư hàng đầu của khu vực, quy mô phát triển kinh tế của Trung Quốc đã đi vào cấp độ đầu tư, vượt xa khỏi lĩnh vực thương mại xuất nhập khẩu, dịch vụ và tài chính. Trung Quốc đã ký kết rất nhiều các thỏa thuận với các nước trong khu vực, bao gồm phát triển hạ tầng, kết nối Đông Nam Á với Trung Quốc. Các công ty Trung Quốc xây dựng các tuyến đường giao thông sắt bộ, đường thủy và mạng lưới điện năng cấp quốc gia, các hải cảng kinh tế xuất nhập khẩu, kết nối các nước Đông Nam Á với hệ thống giao thông Trung Quốc vào một siêu hệ thống kinh tế thương mại khổng lồ.
Không cần phải có chỉ số IQ quá cao để hiểu, các liên hệ kinh tế và các mối quan hệ giao thương có thể được sử dụng như những đòn bẩy mang tính chiến lược trong các chính sách gây áp lực đối ngoại. Trong cuộc gặp của các bộ trưởng Bộ ngoại giao ASEAN năm 2012 ở Campuchia đã xuất hiện những mâu thuẫn dẫn đến các tranh cãi gay gắt...
Việc Trung Quốc đưa tàu du lịch vào vùng nước tranh chấp đã làm tăng thêm một vấn đề nghiêm trọng đối với khu vực Biển Đông. Tất nhiên, các tàu cảnh sát biển, tàu quân sự của các nước láng giềng không thể dùng vũ lực đối với tàu du lịch, ngay cả khi họ cho rằng tàu du lịch đang xâm phạm vùng nước chủ quyền của họ. Từ những chuyến du lịch gần, sẽ có nhiều tàu hơn nữa với những chuyến du lịch xa hơn nữa. Sẽ không đơn thuần chỉ là người Trung Quốc đi du lịch, mà còn có cả những người nước ngoài. Ở các khu vực tranh chấp, vấn đề đã trở nên vô cùng nghiêm trọng.
Có thể suy đoán rằng, quyết định đưa lực lượng thứ 3 (lực lượng dân sự) vào cuộc chiến giành quyền thống trị Biển Đông là một nước cờ quyết liệt, thực hiện ý đồ chiến lược thực hiện đường 9 đoạn của Trung Quốc trên Biển Đông. Tín hiệu nguy hiểm đã lan truyền trong khu vực châu Á, đặc biệt đối với các nước có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc.
Tín hiệu này cũng buộc Mỹ phải "xoay trục" trọng tâm chiến lược về châu Á – Thái Bình Dương. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ tuyên bố rằng một phần lực lượng quân đội Mỹ sẽ được điều chuyển tới châu Á, lực lượng này sẽ nằm ngoài kế hoạch cắt giảm ngân sách quân sự. Chính phủ một số nước Đông Nam Á đã quyết định tăng cường hợp tác với Mỹ trong lĩnh vực quốc phòng. Nhưng từ sau nhiệm kỳ của Bộ trưởng bộ Ngoại giao Mỹ, bà Hilary Clinton, dường như Mỹ cũng phần nào lơi lỏng ảnh hưởng của mình đối với các đồng minh châu Á, vì chính bản thân Mỹ cũng có mối quan hệ khá đặc thù và đậm màu sắc lợi nhuận trong nhiều vấn đề quan hệ với Trung Quốc.
Nhìn từ góc độ kinh tế chính trị, có thể nhận rõ tư duy chiến lược của Trung Quốc như sau. Trên Biển Đông cùng tiến hành song song hai hướng tiến công chủ lực: hướng thứ nhất là ngư thuyền dân sự kết hợp du lịch biển đảo khằng định chủ quyền; hướng thứ hai là lực lượng chấp pháp trên biển như các đội tàu hải giám, ngư chính. Đứng sau lưng hai lực lượng này là lực lượng hải quân hùng hậu của Trung Quốc. Hai lực lượng này trong giai đoạn từ cuối năm 2012 đến nửa đầu năm 2013 đã hoạt động hết sức tích cực trong tranh chấp biển Đông, sự gia tăng các hoạt động diễn tập trên Biển Đông, Biển Hoa Đông và những cuộc diễn tập với quân đội Nga đã đưa các nước xung quanh vào tình huống nghi ngờ và lúng túng. Trung thành với luận thuyết “trường kỳ kháng chiến”, “chiến tranh nhân dân”, Trung Quốc đang từng bước thực hiện tham vọng thống trị các vùng nước đang tranh chấp với nhiều chiến thuật phức tạp khác nhau.
Trung Quốc xây dựng một đội quân gồm các tàu hải giám, ngư chính hùng hậu tiên phong trong tranh chấp chủ quyền trên biển
Trung Quốc xây dựng một đội quân gồm các tàu hải giám, ngư chính hùng hậu tiên phong trong tranh chấp chủ quyền trên biển.
Dường như tư duy chiến lược “Hồng kỳ rực biển Đông” và “bất chiến tự nhiên thành” với ý đồ kéo dài thời gian tranh chấp, lấy ngư thuyền và chấp pháp trên biển làm lực lượng chủ chốt từng bước lấn chiếm khu vực, với dân số đông, sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế và lực lượng quân sự hùng hậu, sẵn sàng cứng rắn khi cần thiết, con cháu của Tôn Tử tin tưởng vào thắng lợi sau một vài thập niên nữa.
Các chuyên gia Nga nhận định chính tư duy “Quần chúng đông đảo, kinh tế cường thịnh, quân sự hùng mạnh” của một siêu cường đang trỗi dậy vẫn có một điểm yếu chết người: Lịch sử chứng minh Trung Quốc chỉ giỏi trong các cuộc nội chiến kiểu thời Xuân thu Chiến quốc chứ không có khả năng tiến hành một cuộc chiến tranh bên ngoài, nhất là chiến tranh trên biển. Và sẽ cực kỳ nguy hiểm hơn nếu cuộc chiến tranh trên biển kéo dài.
Theo giới chính trị-quân sự Nga, hiện nay Philippines dường như đang bị Trung Quốc lấn sân, gây áp lực dữ dội nhất và có nguy cơ mất đi các bãi cạn. Đương nhiên với sức mạnh quân sự còn hạn chế, Philiphines không có hy vọng giành phần thắng trong cuộc hải chiến nếu nó xảy ra. Nhưng trong trường hợp nổ ra chiến sự, chỉ cần các chiến hạm Trung Quốc đánh chìm một tàu Philiphines cũng đồng nghĩa với việc nền kinh tế của Trung Quốc cũng chìm xuống biển rất nhanh.
Xung đột quân sự sẽ dẫn đến một cuộc chạy đua vũ trang tốc độ cao đến chóng mặt của khu vực châu Á – Thái Bình Dương khiến nền kinh tế Trung Quốc cũng không đủ sức chịu đựng nổi. Khu vực Biển Đông có thể sẽ bị phong tỏa cho một cuộc chiến dài ngày. Các đoàn ngư thuyền, du lịch Trung Quốc phải đối mặt với nhiều nguy cơ bài Hoa, các đối tác kinh tế của Trung Quốc bao gồm cả Nga sẽ đồng loạt ngoảnh mặt làm ngơ. Châu Âu sẽ có những quyết định khắc nghiệt với các hợp đồng kinh tế Trung Quốc. Và cuối cùng, bộ Tài chính Mỹ với phố Wall sẽ buộc phải vĩnh biệt những giao thương tiền tỷ trên đại lục. Đó thật sự là thảm họa với hệ thống kinh tế - chính trị Trung Quốc hiện nay.
Lo lắng hàng đầu của Trung Quốc hiện nay là việc các nước Đông Nam Á gia tăng sức mạnh quân sự của mình, đồng thời phát triển các hải đoàn ngư nghiệp có số lượng đông đảo, các tàu đánh cá có lượng giãn nước lớn, có khả năng khai thác biển dài ngày và được sự ủng hộ về mọi mặt của các chính phủ trong khối ASEAN. Các lực lượng cảnh sát, tuần biển các nước thể hiện sự cứng rắn trên Biển Đông và sẵn sàng đáp trả những hành động khiêu khích bằng các biện pháp quân sự. Đây là điều mà Trung Quốc không trông đợi.
Trên các quan điểm về quân sự - chính trị đối ngoại, khác hẳn với Mỹ ở thời điểm này Trung Quốc không mong chờ chiến tranh và cũng chưa sẵn sàng cho một cuộc đối đầu quân sự. Những hành động trong vùng nước Senkaku đã khẳng định một điều: Trung Quốc có thể cố gắng đe dọa sử dụng biện pháp cứng rắn như các tướng lĩnh diều hâu của họ vẫn luôn đánh võ mồm, nhưng cân đối về lợi ích và nguy cơ (người Trung Hoa tự xưng là bậc thầy về lý luận thực dụng). Các chuyên gia chính trị-quân sự Nga nhận định trong giai đoạn từ 4 -5 năm nữa Trung Quốc không có khả năng tiến hành chiến tranh lớn và xung đột vũ trang khu vực mà chỉ có thể sử dụng lực lượng tuần cảnh mạnh với lực lượng ngư dân, du lịch, ngư chính, hải giám làm chủ công để lấn chiếm, tranh đoạt.
Giới phân tích Nga cho rằng tình hình những vùng nước thuộc Biển Đông không thể dự đoán trước và còn xa mới đạt được sự ổn định khu vực. Trung Quốc vẫn quyết liệt trong những đòi hỏi vô lý và thậm chí ngang ngược về chủ quyền của mình, mặc dù họ không hề có những căn cứ thuyết phục về vấn đề chủ quyền trong lĩnh vực luật pháp quốc tế về biển. Theo tờ báo Nga, Trung Quốc hoàn toàn không có những bằng chứng lịch sử về kiểm soát những khu vực tranh chấp, họ đã tự dựng lên, tự tuyên truyền đến mức hằn sâu vào suy nghĩ của người Trung Quốc. Bất chấp những khoảng trống và tính phi lý trong yêu sách của mình, Trung Quốc vẫn tiếp tục phát triển các tư duy chiến thuật và đưa ra những thách thức mang tính chiến lược đối với các nước trong khu vực và với siêu cường Mỹ.
Trịnh Thái Bằng
Theo Epochtimes - Nga