Thứ Tư, 6 tháng 11, 2013

Chính sách ngoại giao “đi trên dây” của Việt Nam

Cách tiếp cận mới về chính sách ngoại giao của Việt Nam mà một số nhà phân tích miêu tả là “thêm bạn, bớt thù” phản ánh tình thế bấp bênh của nước này, giống như chú chim đi trên một sợi dây căng giữa một bên là Trung Quốc và một bên là Mỹ.

Trong vài tháng qua, các quan chức Việt Nam đã có một loạt các cuộc gặp cấp cao với lãnh đạo của hai nước Mỹ và Trung Quôc. Cuối tháng 7, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đến thăm Washington nhằm thảo luận Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) với Tổng thống Barack Obama, làm nổi bật mối quan hệ ngày càng phát triển giữa 2 cựu thù trong bối cảnh chính quyền Mỹ tăng cường chiến lược tập trung vào Châu Á. Chỉ một tháng sau đó, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã gặp gỡ Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường và tái khẳng định chính sách lâu dài và nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam củng cố và tăng cường tình đoàn kết láng giềng và hợp tác với Trung Quốc.
Cơn lốc ngoại giao này là bằng chứng về mong muốn của Việt Nam trong việc duy trì quan hệ kinh tế, quân sự ổn định vàbình thường với cả Trung Quốc và Mỹ, một điều đặc biệt quan trọng nếu xét đến lịch sử xung đột của Việt Nam với 2 quốc gia này, cũng như tầm quan trọng của Mỹ và Trung Quốc đối với mục tiêu hội nhập kinh tế toàn cầu của Việt Nam. Việt Nam rất lo lắng về sự trỗi dậy của Trung Quốc, và cách tiếp cận mới trong chính sách ngoại giao của Việt Nam là nhằm đối phó với ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc ở khu vực. Tuy nhiên về mặt ý thức hệ, Việt Nam có thể thấy thoải mái với Trung Quốc hơn là Mỹ. Về mặt kinh tế, Trung Quốc là một thị trường lớn, một nguồn hỗ trợ tài chính và là một hình mẫu phát triển. Điều này đặt Việt Nam vào một tình thế không mấy dễ chịu. Một quan chức Việt Nam đã miêu tả rằng Việt Nam như đang đi thăng bằng trên một sợi dây mà một đầu là Trung Quốc và đầu kia là Mỹ.
Một vấn đề đối ngoại đang tiếp tục gây ảnh hưởng đến mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc là yêu sách của hai bên đối với 2 nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Điều quan trọng nhất lúc này là nước nào có quyền khám phá và khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên trong và dưới biển xung quanh các hòn đảo này.  Mặc dù nguồn dự trữ tài nguyên hiện vẫn chưa được chứng minh chính xác, nhưng những ước tính lạc quan của Trung Quốc cho rằng tiềm năng dầu mỏ tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có thể ở mức 213 tỷ thùng, và khu vực này cũng giàu tài nguyên khí đốt. Cả Việt Nam và Trung Quốc đều không loại bỏ hoàn toàn khả năng sử dụng hành động quân sự. Nhưng hiện giờ, hai quốc gia đều cam kết đàm phán hòa bình để giải quyết vấn đề bất chấp những áp lực chủ nghĩa dân tộc ở cả hai nước vẫn rất cứng rắn về vấn đề chủ quyền.
Những căng thẳng kinh tế giữa hai nước cũng có thể làm chệch hướng quan hệ. Một mặt, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, đặc biệt là nhu cầu vô tận của Trung Quôc về nguồn hàng hóa và tài nguyên. Duy trì tăng trưởng kinh tế đối với một quốc gia có tới gần 1,4 tỷ dân đòi hỏi nguồn tài nguyên thiên nhiên khổng lồ, trong đó có nhiều nguồn tài nguyên phải nhập khẩu. Và vì Trung Quốc đang lùng sục khắp nơi trên thế giới để xây dựng các mối quan hệ kinh tế nhằm đảm bảo nguồn cung không bị gián đoạn đối với các mặt hàng như than đá, dầu thô, quặng sắt, nên việc Trung Quốc tìm kiếm sự trợ giúp từ người láng giềng sát cạnh ngay mình là lẽ tự nhiên.
Mặt khác, sự chênh lệch giữa hai nước, đặc biệt là về quy mô kinh tế và quyền lực chính trị, cho thấy việc mở của thị trường không phải hoàn toàn là tình thế “cùng thắng” (win-win) cho cả hai bên. Hàng hóa Trung Quốc ồ ạt đổ vào thị trường Việt Nam, cả qua đường buôn lậu biên giới và nhập khẩu hợp pháp, đã tác động tiêu cực cho nhiều ngành sản xuất hàng hóa trong nước của Việt Nam, đặc biệt là hàng hóa tiêu dùng. Việt Nam đặc biệt lo ngại về nhiều loại hàng hóa kém chất lượng, nguồn gốc không rõ ràng, có thể chứa cả độc tố và các chất khác gây hại đến sức khỏe. Một số sản phẩm có thể sản xuất ở Việt Nam nhưng chúng vẫn được nhập khẩu vì hiệu quả hơn về mặt kinh tế. Sự phụ thuộc vào các sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc đã đẩy nhiều doanh nghiệp Việt Nam tới mức báo động và sự lệ thuộc thương mại quá lớn của Việt Nam với Trung Quốc được dự báo sẽ tăng theo thời gian.
Tuy nhiên, bất chấp những mâu thuẫn về kinh tế và tranh chấp lãnh thổ, mối quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam gần đây vẫn được cải thiện, tính chất hòa giải trong các cuộc họp gần đây gữa Bắc Kinh và Hà Nội mở ra thời kỳ tương đối ổn định giữa hai quốc gia. Cả hai đều mong muốn tiếp tục thúc đẩy mối quan hệ song phương, và việc cải thiện mối quan hệ Trung - Việt có lẽ sẽ không làm tổn hại đến mối quan hệ của Việt Nam với Mỹ.
Nhưng mỗi khi Trung Quốc hay Mỹ rung sợi dây mạnh hơn thì Việt Nam sẽ tự thấy mình rơi vào tình thế bấp bênh hơn và không rõ đầu nào của sợi dây sẽ là điểm tựa an toàn nhất. Nếu như Việt Nam vẫn tiếp tục mong muốn độc lập thì nước này cần phải tránh quan hệ quá gần gũi với một nước mà buông lỏng mối quan hệ với nước kia.
Hiện Việt Nam đang ở một thời điểm tương đối đặc biệt trong lịch sử của mình. Đất nước thống nhất và có đủ điều kiện kinh tế và chính trị để đóng vai trò quan trọng trong khu vực. Nhưng việc gia tăng tình cảm dân tộc dù ở Trung Quốc hay Việt Nam đều có thể báo trước những giai đoạn biến động hơn trong tương lai. Và giống như khẳng định của một nhà ngoại giao Việt Nam: “Tuy không ai công khai nói ra nhưng điều ảnh hưởng tới từng cuộc họp ở Đông Nam Á hiện nay là mối lo ngại khu vực sẽ như thế nào dưới sự thống trị của Trung Quốc”…
Dennis C McCornac là Giám đốc Nghiên cứu Toàn cầu, Đại học Loyola, Maryland (Mỹ). Ông chuyên về kinh tế và đã sống hơn 20 năm ở Nhật Bản và Việt Nam. Bài viết được đăng lần đầu trên trang Diễn đàn Đông Á.
Người dịch: Trần Quang
Hiệu đính: Minh Ngọc
http://www.nghiencuubiendong.vn/tin-quoc-te-tong-hop/3738-chinh-sach-ngoai-giao-di-tren-day-cua-viet-nam

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét